Logo Viện Nghiên cứu Văn hóa và Dân sinh
Viện Nghiên cứu Văn hóa và Dân sinh
Logo Văn hóa và Dân sinh
send Gửi yêu cầu hợp tác

© 2026 Viện Nghiên cứu Văn hóa và Dân sinh

Văn hóa

Văn hóa truyền thống của 54 dân tộc - nguồn lực nội sinh cho phát triển đất nước bền vững

calendar_today 01/07/2026
person Admin Viện
visibility 1606 lượt xem
Văn hóa truyền thống của 54 dân tộc - nguồn lực nội sinh cho phát triển đất nước bền vững

Trong dòng chảy hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, văn hóa của cộng đồng 54 dân tộc anh em không chỉ phản ánh sự phong phú, đa dạng của bản sắc Việt Nam mà còn là cội nguồn sức mạnh tinh thần, nguồn lực nội sinh quan trọng góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc nói chung, cũng như di sản văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng, luôn là chủ trương xuyên suốt, nhất quán của Đảng và Nhà nước, được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia.

Văn hóa truyền thống của 54 dân tộc - nguồn tài sản quý giá của quốc gia

Việt Nam là mái nhà chung của 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, gắn bó và sẻ chia trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Trải qua biết bao biến động của thiên tai, chiến tranh hay dịch bệnh, đồng bào các dân tộc luôn đồng lòng, chung sức bảo vệ và xây dựng đất nước. Trên mọi miền biên cương của Tổ quốc đều in dấu những đóng góp to lớn của các cộng đồng dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc. Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Các dân tộc anh em trong nước ta gắn bó ruột thịt với nhau trên một lãnh thổ chung và trải qua một lịch sử lâu đời cùng nhau lao động và đấu tranh để xây dựng Tổ quốc tươi đẹp". Chùm ảnh: Rạng rỡ khối quần chúng tham gia diễu hành tại A80- Ảnh 3.

Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc đều có lịch sử hình thành, phát triển cùng những sắc thái văn hóa riêng biệt, góp phần tạo nên bức tranh văn hóa thống nhất trong đa dạng của đất nước. Sự thống nhất được thể hiện ở tinh thần yêu nước, ý thức cộng đồng, truyền thống đoàn kết và lối sống nhân văn, nghĩa tình; trong khi tính đa dạng hiện diện sinh động qua ngôn ngữ, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lễ hội, trang phục, kiến trúc và đời sống nghệ thuật của từng dân tộc.

Ngôn ngữ là một trong những biểu hiện rõ nét nhất của sự đa dạng văn hóa. Hiện nay, 27 trong số 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam vẫn duy trì và sử dụng hệ thống chữ viết riêng như dân tộc Tày, Thái, Hoa, Khmer, Nùng, Mông... Không chỉ phục vụ giao tiếp hằng ngày, các ngôn ngữ này còn là phương tiện sáng tạo văn học, nghệ thuật, phát thanh, truyền hình và được sử dụng trong giáo dục tại nhiều địa phương vùng dân tộc thiểu số.

Trang phục truyền thống cũng là dấu ấn đặc trưng giúp nhận diện bản sắc của từng cộng đồng dân tộc. Mỗi bộ trang phục không đơn thuần phản ánh quan niệm thẩm mỹ mà còn chứa đựng những giá trị về lịch sử, tín ngưỡng, tôn giáo và triết lý sống của mỗi dân tộc. Từ nghệ thuật dệt vải, thêu thùa đến các kỹ thuật thủ công tinh xảo đều lưu giữ những câu chuyện về nguồn cội và hành trình phát triển của cộng đồng.

Bên cạnh đó, kho tàng văn hóa dân gian với những làn điệu quan họ, ca trù, hát xoan, dân ca ví, giặm cùng hệ thống lễ hội truyền thống phong phú tiếp tục khẳng định sức sống bền bỉ của văn hóa dân tộc trong đời sống cộng đồng. Có thể kể đến Lễ hội Hoa Ban của đồng bào Thái, Lễ hội Gầu Tào của người Mông, Lễ hội Lồng Tồng của người Tày và Nùng, Lễ hội Nhảy lửa của đồng bào Dao và Pà Thẻn... Tại khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên còn có các lễ hội đặc sắc như Lễ đâm trâu, Lễ hội Cồng chiêng, Lễ mừng lúa mới hay Lễ hội Katê. Trong khi đó, vùng đất Nam Bộ nổi bật với Lễ hội đua bò Bảy Núi, Lễ hội Ok Om Bok và Tết Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer.

Những giá trị văn hóa truyền thống được cộng đồng 54 dân tộc gìn giữ qua nhiều thế hệ không chỉ là kết tinh của hàng nghìn năm lịch sử mà còn trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa. Bản sắc văn hóa ngày nay không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ bảo tồn mà đang từng bước trở thành nền tảng cho phát triển kinh tế, tạo sinh kế và nâng cao vị thế quốc gia. Những người “giữ lửa” tại ngôi Làng 54 dân tộc - ảnh 1

Đại diện 16 nhóm nghệ nhân đồng bào dân tộc nghe giới thiệu về nét độc đáo, huyền bí chiếc cầu thang nhà dài của người Ê Đê

Thổ cẩm của người Mông, sử thi Ê Đê, hát Then của người Tày, nghệ thuật nhạc ngũ âm của đồng bào Khmer hay các trò diễn dân gian truyền thống đều có thể trở thành nguồn cảm hứng cho điện ảnh, sân khấu, thời trang, mỹ thuật và các ngành công nghiệp sáng tạo hiện đại. Sự kết hợp giữa di sản văn hóa và công nghệ sáng tạo đang mở ra những cơ hội mới cho sự phát triển của công nghiệp văn hóa Việt Nam.

Trong bối cảnh du lịch trải nghiệm và du lịch văn hóa ngày càng phát triển, văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số hoàn toàn có thể trở thành một "thương hiệu quốc gia", góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới, đồng thời tạo việc làm và sinh kế bền vững cho người dân địa phương. Những năm gần đây, các mô hình du lịch cộng đồng gắn với bản sắc dân tộc đã phát triển mạnh tại nhiều địa phương như Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Đắk Lắk...

Việc khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa bản địa còn tạo điều kiện để đồng bào tham gia trực tiếp vào các hoạt động phát triển kinh tế như hướng dẫn viên du lịch, nghệ nhân biểu diễn, thợ dệt thủ công, người làm du lịch cộng đồng hay sáng tạo nội dung văn hóa, qua đó vừa nâng cao thu nhập, vừa bảo tồn và truyền lại di sản cho thế hệ mai sau.

Cùng với đó, Chương trình "Mỗi xã một sản phẩm" (OCOP) đã góp phần chuyển hóa các giá trị văn hóa thành sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao. Nhiều sản phẩm gắn với tri thức bản địa như gạo Séng Cù, mật ong bạc hà, chè Shan tuyết, rượu cần hay các sản phẩm mây tre đan đã được chuẩn hóa, xây dựng thương hiệu và quảng bá trên các nền tảng số, từng bước tiếp cận thị trường trong nước và quốc tế.

Đây chính là hướng đi bền vững của phát triển dựa trên nội lực văn hóa, trong đó mỗi cộng đồng dân tộc không chỉ là chủ thể gìn giữ di sản mà còn là người sáng tạo, người thụ hưởng và là cầu nối đưa văn hóa dân tộc hội nhập với thế giới.

Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số

Với quan điểm xuyên suốt rằng văn hóa các dân tộc thiểu số là bộ phận không thể tách rời của nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng, Đảng và Nhà nước luôn xác định công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển đất nước.

Qua từng giai đoạn, nhận thức và tư duy của Đảng về văn hóa ngày càng được bổ sung, hoàn thiện. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998 khẳng định mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời nhấn mạnh văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Đến Hội nghị Trung ương 10 khóa IX năm 2004, nhận thức về vai trò của kinh tế thị trường trong lĩnh vực văn hóa tiếp tục được mở rộng. Nghị quyết số 33-NQ/TW năm 2014 lần đầu tiên đề cập đến khái niệm "công nghiệp văn hóa", mở ra cách tiếp cận mới khi xem văn hóa là một nguồn lực kinh tế quan trọng phục vụ phát triển bền vững đất nước.

Cùng với đó, nhiều chiến lược, chương trình lớn của Chính phủ đã được triển khai nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tạo điều kiện để đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, tiêu biểu như Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 hay Chương trình tổng thể phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2023-2025. 

Đồng bào Cơ-tu ở huyện miền núi Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam (ảnh:VOV)

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững, văn hóa tiếp tục được xác định giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển quốc gia. Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 7/1/2026 khẳng định: "Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước".

Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng, mang đậm giá trị dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học và hiện đại; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm bình đẳng trong thụ hưởng các giá trị văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số và các nhóm yếu thế trong xã hội.

Thời gian qua, việc triển khai Dự án 6 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã tạo nhiều chuyển biến tích cực trong nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần và sinh kế cho người dân.

Theo Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam, Dự án 6 về "Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch" được triển khai trên phạm vi cả nước với 19 nhiệm vụ thành phần, hướng đến mục tiêu bảo tồn di sản văn hóa, phát triển du lịch bền vững và nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của đồng bào.

Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đã được phục hồi, bảo tồn và phát huy hiệu quả. Các lễ hội tiêu biểu như Gầu Tào của người Mông, không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên hay lễ hội Then - Đàn tính của đồng bào Tày, Nùng, Thái đã trở thành những sản phẩm văn hóa - du lịch đặc sắc của nhiều địa phương.

Song song với đó, hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở tiếp tục được đầu tư, nâng cấp; hàng nghìn câu lạc bộ văn hóa dân gian, đội văn nghệ truyền thống được thành lập và duy trì hoạt động thường xuyên, thu hút sự tham gia của đông đảo nghệ nhân, già làng, trưởng bản và thế hệ trẻ.

Việc gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch cộng đồng cũng mang lại những kết quả tích cực. Nhiều mô hình du lịch cộng đồng bền vững được hình thành, vừa góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa, vừa tạo sinh kế ổn định cho người dân địa phương. 

Hằng năm, Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam phối hợp tổ chức nhiều hoạt động văn hóa quy mô lớn tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, tiêu biểu như "Sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc", "Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam", "Tuần Đại đoàn kết các dân tộc - Di sản văn hóa Việt Nam" hay "Chợ phiên vùng cao". Những chương trình này góp phần tái hiện sinh động đời sống văn hóa, phong tục, lễ hội và nghề truyền thống của cộng đồng 54 dân tộc anh em, đồng thời tạo không gian giao lưu, quảng bá bản sắc văn hóa Việt Nam đến đông đảo công chúng trong và ngoài nước.

Năm 2026, Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam được tổ chức từ ngày 17 đến 19/4 tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, với sự tham gia của hơn 300 nghệ nhân, già làng, trưởng bản, người có uy tín cùng đại diện đồng bào các dân tộc đến từ 34 tỉnh, thành phố trên cả nước.

Trong khuôn khổ chương trình còn diễn ra nhiều hoạt động trình diễn, giới thiệu di sản văn hóa đặc sắc của các địa phương như Ngày hội giao lưu văn hóa các dân tộc tỉnh Vĩnh Long, Sắc màu văn hóa dân tộc Chu Ru của tỉnh Lâm Đồng, Sắc màu văn hóa dân tộc Thái của tỉnh Thanh Hóa hay Sắc màu văn hóa dân tộc Tày của tỉnh Quảng Ninh, góp phần lan tỏa giá trị văn hóa truyền thống và tăng cường sự gắn kết trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Chia sẻ bài viết:
Liên kết ngoài